Văn khấn ngày giỗ thường – lễ Tiên thường và chính giỗ
Ngày giỗ là ngày con cháu tưởng nhớ người đã khuất. Trang có bốn bài khấn theo sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam”: lễ Tiên thường (hôm trước) và lễ chính giỗ, mỗi lễ một bài khấn thần linh và một bài khấn gia tiên. Kèm theo là cách phân biệt giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường và cách sắm lễ.
Âm lịch Việt Nam, giờ hoàng đạo, việc nên làm từng ngày — miễn phí.
Ý nghĩa
Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” viết: “Ngày giỗ cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, gọi là ngày kỵ nhật. Chiều hôm trước là cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ.” Ngày giỗ tính theo âm lịch, đúng ngày mất.
Lễ Tiên thường là để báo với Thổ thần, Thổ công, xin cho hương hồn người được giỗ về hưởng và cho vong hồn gia tiên nội ngoại về cùng dự; con cháu ra mộ mời hương linh về và sửa sang mộ phần. Ngày chính giỗ là lễ chính, con cháu họ hàng tề tựu. Theo lệ xưa, chỉ giỗ lớn (ông bà, cha mẹ, vợ chồng) mới làm lễ Tiên thường; giỗ nhỏ chỉ cúng ngày chính giỗ.
Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường
| Giỗ | Thời điểm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Giỗ đầu (Tiểu tường) | Tròn một năm sau ngày mất (âm lịch) | Còn trong vòng tang; thường làm trang nghiêm, chu đáo. |
| Giỗ hết (Đại tường) | Tròn hai năm sau ngày mất | Giỗ cuối trong vòng tang, thường làm lớn hơn. Sau đó ít lâu làm lễ trừ phục (đàm tế), bỏ tang phục, đưa bát hương người mất vào thờ chung với gia tiên. |
| Giỗ thường (Cát kỵ) | Từ năm thứ ba trở đi | Ngày sum họp con cháu nội ngoại tưởng nhớ người đã khuất; bốn bài khấn trên trang dùng cho giỗ này. |
Phan Kế Bính ghi: “Được một năm thì giỗ đầu gọi là lễ tiểu-tường”, “Hai năm giỗ hết gọi là đại tường”, “Sau đại tường hai tháng, chọn một ngày làm lễ trừ phục, gọi là đàm tế.” Có sách ghi giỗ hết vào khoảng hai năm ba tháng sau ngày mất, tức gộp cả thời gian đến lễ đàm; mỗi vùng mỗi nhà có thể khác.
Giỗ đầu và giỗ hết còn trong vòng tang nên có bài khấn riêng; trang này chưa đăng các bài đó.
Trình tự cúng giỗ
- Hôm trước (Tiên thường): lau dọn bàn thờ, bày lễ; khấn Thổ thần, Thổ công trước, rồi khấn gia tiên (hai bài đầu dưới đây); ra mộ mời hương linh về dự giỗ.
- Ngày chính giỗ: bày cỗ, khấn bài thần linh và bài gia tiên (hai bài sau). Thứ tự mỗi sách ghi một khác: sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” ghi mời người được hưởng giỗ trước, rồi gia tiên hai họ, cuối cùng cáo thỉnh gia thần; sách của Trương Thìn ghi thắp hương ban Táo quân xin phép Thổ công trước, rồi gia tiên, rồi ban người quá cố. Đợi hết ba tuần hương thì lễ tạ, hoá vàng, hạ lễ.
- Khách đến dự giỗ mang lễ (hương, hoa, quả, trà, rượu) thì con cháu đặt lên bàn thờ trước khi khách lễ.
Muốn biết ngày giỗ âm lịch năm nay rơi vào ngày dương nào, tra ở Lịch vạn niên (âm lịch Việt Nam, kèm giờ hoàng đạo).
Mâm lễ
- Ngày giỗ thường (Cát kỵ): hương, hoa, quả, phẩm oản, vàng mã và mâm lễ mặn gồm xôi, gà, các món cơm canh; nhiều nhà nấu thêm món người mất ưa thích lúc sinh thời.
- Lễ Tiên thường: hương, hoa, quả, phẩm oản, tiền vàng, trầu, rượu, lễ mặn — cúng hai lễ: yết cáo Thổ thần và cáo gia tiên.
- Theo lệ xưa, có nơi dùng thủ lợn hoặc thủ bò để thờ Thổ công trong ngày giỗ; mâm giỗ thường có bát cơm úp quả trứng luộc làm đầu (Phan Kế Bính).
- Hôm trước (Tiên thường): khấn Thổ thần, Thổ công trước để xin cho hương linh người được giỗ về hưởng, rồi khấn gia tiên; con cháu ra mộ mời hương linh về dự giỗ và sửa sang mộ phần. Từ lúc cáo giỗ đến hết ngày hôm sau, bàn thờ lúc nào cũng có hương.
- Ngày chính giỗ: đồ lễ bày đủ, gia chủ khăn áo chỉnh tề thắp hương, khấn. Đợi hết ba tuần hương thì lễ tạ, hoá vàng, hạ lễ, mời họ hàng thụ lộc. Thứ tự thắp hương các ban mỗi sách ghi một khác (xem mục trình tự).
Mâm lễ tuỳ điều kiện và phong tục từng vùng; quan trọng nhất là lòng thành và sự sạch sẽ, tươm tất.
Văn khấn
Văn khấn Thổ thần, Táo quân, Long mạch và các vị Thần linh ngày Tiên thường (hôm trước ngày giỗ)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Hôm nay là ngày … tháng … năm …
Ngày trước giỗ - Tiên thường …
Tín chủ con là: …
Ngụ tại: …
Nhân ngày mai là ngày giỗ của …
Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, trước án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.
Chúng con kính mời các vị Bản gia Thổ công, Táo quân, Long mạch và các vị Thần linh linh thiêng hiển hiện trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Theo sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” (bản điện tử công khai, tr. 27–28).
Văn khấn gia tiên ngày Tiên thường (hôm trước ngày giỗ)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ …
Tín chủ con là …
Ngụ tại …
Hôm nay là ngày … tháng … năm …
Chính ngày giỗ của …
Thiết nghĩ … vắng xa trần thế, không thấy âm dung.
Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.
Tâm thành kính mời …
Mất ngày … tháng … năm …
Mộ phần táng tại …
Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.
Con lại xin kính mời các vị Tổ tiên nội ngoại, Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Huynh đệ, Cô di, Tỷ muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.
Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thần linh, Thổ địa, Thổ công, Táo quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.
Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Theo sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” (bản điện tử công khai, tr. 28–29).
Văn khấn Thổ thần, Táo quân, Long mạch và các vị Thần linh chính ngày giỗ thường (Cát kỵ)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Hôm nay là ngày … tháng … năm …
Tín chủ (chúng) con là …
Ngụ tại …
Nhân hôm nay là ngày giỗ của …
Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, trước án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh.
Chúng con kính mời các vị Bản gia Thổ công, Táo quân, Long mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Theo sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” (bản điện tử công khai, tr. 30–31); VietNamNet (28/11/2025) đăng cùng lời, ghi theo sách này, NXB Văn hoá Thông tin.
Văn khấn gia tiên chính ngày giỗ thường (Cát kỵ)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ …
Tín chủ (chúng) con là …
Ngụ tại …
Hôm nay là ngày … tháng … năm …
Là chính ngày Cát kỵ của …
Thiết nghĩ … (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung.
Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời …
Mất ngày … tháng … năm …
Mộ phần táng tại …
Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.
Con lại xin kính mời các vị Tổ tiên nội ngoại, Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Huynh đệ, Cô di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.
Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ công, Táo quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.
Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Theo sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” (bản điện tử công khai, tr. 31–32); VietNamNet (28/11/2025) đăng cùng lời, ghi theo sách này, NXB Văn hoá Thông tin.
Chỗ “…” điền ngày tháng âm lịch, họ tên người khấn, địa chỉ, tên hiệu và ngày mất của người được giỗ, nơi đặt mộ. Lời khấn giữ nguyên văn sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam”. Riêng bài gia tiên ngày Tiên thường, sách in dòng “Chính ngày giỗ của…” (điền tên người được giỗ) và câu “Ngày mai Cát kỵ, hôm nay…”.
Lưu ý
- Ngày giỗ tính theo âm lịch, theo ngày mất. Theo lệ xưa chỉ những giỗ lớn (ông bà, cha mẹ, vợ chồng) mới làm lễ Tiên thường; giỗ nhỏ chỉ cúng ngày chính giỗ.
- Con cháu ở xa không về được có thể “gửi giỗ” hoặc làm giỗ vọng ở nhà mình. Cỗ bàn tuỳ điều kiện — sách xưa nhắc không nên bày vẽ tốn kém, cốt ở lòng thành.
- Hoá vàng ở nơi sạch sẽ, thuận chiều gió, có chậu hoá vàng; giữ an toàn phòng cháy.
Các lưu ý và cách chọn ngày trên là theo quan niệm dân gian, mỗi vùng mỗi nhà có thể khác; nên hỏi thêm người lớn trong họ và giữ an toàn khi đốt hương, hoá vàng.
Các lễ khác
- Mùng 1 và ngày Rằm
- Rằm tháng Mười (Tết Hạ Nguyên)
- Cúng ông Công ông Táo
- Lễ tất niên
- Lễ giao thừa
- Mùng 1 Tết
- Lễ hoá vàng (tạ năm)
- Vía Thần Tài
- Rằm tháng Giêng (Tết Nguyên Tiêu)
- Tết Thanh Minh (tảo mộ)
- Tết Hàn Thực
- Tết Đoan Ngọ
- Rằm tháng Bảy (Vu Lan, xá tội vong nhân)
- Tết Trung thu (Rằm tháng Tám)
- Lễ đầy tháng
- Lễ dạm ngõ, ăn hỏi
- Lễ khai trương
- Lễ nhập trạch (về nhà mới)
- Lễ động thổ
- Tất cả văn khấn
Câu hỏi thường gặp
Tiên thường là gì?
Là lễ cáo giỗ vào hôm trước ngày giỗ chính: khấn Thổ công, thần linh xin cho hương linh người mất về hưởng giỗ, rồi khấn gia tiên. Theo lệ xưa chỉ giỗ lớn (ông bà, cha mẹ, vợ chồng) mới làm lễ này.
Ngày giỗ khấn thần linh trước hay gia tiên trước?
Ngày Tiên thường (cáo giỗ) thì khấn Thổ công, thần linh trước, gia tiên sau. Ngày chính giỗ, mỗi sách ghi một khác: có sách ghi mời người được giỗ và gia tiên trước, cáo gia thần sau cùng; có sách ghi thắp hương ban Táo quân, xin phép Thổ công trước. Gia đình theo nếp nhà mình.
Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường khác nhau thế nào?
Giỗ đầu (tiểu tường) vào tròn một năm sau ngày mất, giỗ hết (đại tường) vào tròn hai năm; cả hai còn trong vòng tang. Từ năm thứ ba trở đi là giỗ thường (cát kỵ).
Âm lịch Việt Nam, giờ hoàng đạo, việc nên làm từng ngày — miễn phí.